Tượng la hán bồ đại tên thật là Nhân-yết-đà. Theo truyền thuyết kể lại rằng Ngài sinh ra và lớn lên ở vùng đất Ấn độ, Ngài có biệt tại chuyên đi bắt rắn, vì nơi Ngài sinh sống có rất nhiều rắn độc hay cắn chết người. Ngài là người xuất gia nên sau khi bắt những con rắn độc Ngài Nhân-yết-đà đại thường bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi.
Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa..
Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.
La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp
Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015
Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2015
Tượng La Hán Ba Tiêu
Tượng la hán ba tiêu có tên là Phạt-na-bà-tư, vị tôn giả này trú tại núi Khả Trụ. Theo truyền thuyết kể rằng Ngài được hạ sinh trong rừng sâu, khi mẹ ngài đang vào rừng viễn cảnh gặp mưa to dữ dội. Nên khi suất gia ngài chọn tu trong núi rừng, Sở dĩ ngài có pháp hiệu vậy là bởi Ngài thường đứng trước cây chuỗi để niệm kinh phật nên gọi là La-hán Ba Tiêu. Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.
Lúc tu hành La-hán Ba Tiêu nhận lời phó chúc của đức Phật, hóa độ phật pháp vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.
Theo quyển kinh Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn trong tổng số tượng 18 vị la hán, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.
Tượng 18 vị la hán
Trong Phật Giáo Phương Đông nói đến nền mỹ thuật hình tượng các vị A-la-hán luôn là đề tài được đặt lên hàng đầu trong nghệ thuật điêu khắc, những pho tượng với hình dáng khác nhau được lưu truyền rộng rãi trong dân chúng từ đời này sang đời khác.
Một minh chứng rõ nét trong nghệ thuật điêu khắc đó là trong quá trình truyền bá đạo Phật, ngoài việc biên chép lại kinh sách hay thăng tòa giảng giải những triết thuyết của đức Phật, người xưa và nay thường dùng hình thức hội họa hay điêu khắc để khắc họa những hình tượng kinh điển thường mô tả. Phong cách, bút pháp biến đổi theo từng thời đại, nên sự hình thành những mẫu tượng có nét khác nhau tùy vào sự thịnh hay suy của triều đại đó.
Đất nước tiên phong trong nghệ thuật phạt giáo điêu khắc có thể nói tới đất nước Trung Quốc, có rất nhiều nơi thờ phục các vị A-la-hán, có nơi thờ tượng 16 vị la hán, nhưng lại có nơi thờ tượng 18 vị la hán. với hình dạng kỳ lạ, những pho tượng la hán với hình thái khác nhau, nhìn trông rất kỳ di, nhưng những pho tượng luôn thể hiện được Bạc đáng tôn kính với những bậc Tôn giả thể hiện đầy đủ cả tánh đức và trí tuệ.
Đặc biệt với con số 18 vị la hán.
Theo như cuốn kinh điển ghi chép lại thì theo truyền thuyết chỉ có 16 vị la hán, nhưng ngày nay ta lại thấy có tượng 18 vị la hán là bởi xưa kia theo quyển kinh thư Pháp trụ ký nói rằng:
Sau khi đức Phật Niết-bàn 800 năm, tại nước Sư Tử (nay là thủ đô của Srilanka), có một vị La-hán tên Nan-đề-mật-đa-la đạo hạnh trang nghiêm, biện tài vô ngại, có thể lý giải tất cả mọi nghi vấn, khiến mọi người ai nấy đều được an vui. Vì thế, nhân dân trong nước đó rất thương kính Ngài.
Nhưng rồi một hôm, Ngài nói với mọi người:
- Này các vị, trách nhiệm hoằng dương Phật pháp ở thế gian của tôi đã tạm xong, không bao lâu nữa tôi sẽ xa các vị, ai có thắc mắc gì thì cứ hỏi, tôi giải đáp cho.
Nghe vậy, ai cũng thương tiếc, tủi khóc sụt sùi. Thấy thế, Ngài an ủi:
- Này các vị! Vạn sự vạn vật trên đời có sanh ắt có diệt, có hợp ắt có tan, chẳng vật gì thường trụ cả, xin chớ quá bi thương. Chỉ cần các vị nương theo Phật pháp tu hành thì tự nhiên sẽ có kết quả. Tôi sống trên đời này hay không cũng không có gì khác cả!
Nghe Ngài nói, lúc này, họ mới chịu nín khóc, hỏi:
- Thưa tôn giả! Ngài sắp xa chúng con rồi, không biết còn có vị La-hán nào tiếp tục lưu lại thế gian không?
- À, đương nhiên là có! Cách đây 800 năm, trước lúc đức Thế tôn sắp niết-bàn, Ngài đã đem chánh pháp vi diệu phó chúc cho 16 vị La-hán cùng với đệ tử của họ, bảo họ tiếp tục lưu lại nhơn gian dốc sức hộ trì hoằng dương để Phật pháp được trường tồn mãi trên thế gian.
- Thưa tôn giả! Đó là 16 vị La-hán nào? Mọi người giục hỏi.
Thấy vậy, Nan-đề-mật-đa-la nêu rõ danh tánh và trú xứ của 16 vị La-hán, Ngài nói:
1. Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà (còn gọi là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa), vị tôn giả này trú tại Tây-cù-đà-ni-châu.
2. Ca-nặc-ca-phạt-sa, vị tôn giả này trú tại nước Ca-thấp-di-la.
3. Ca-nặc-ca-ly-nọa-xà, vị tôn giả này trú tại Đông-thắng-thần-châu.
4. Tô-tần-đà, vị tôn giả này trú tại Bắc-cu-lô-châu.
5. Nặc-cự-la, vị tôn giả này trú tại Nam-thiệm-bộ-châu.
6. Bạt-đà-la, vị tôn giả này trú tại Đam-một-la-châu.
7. Ca-lý-ca, vị tôn giả này trú tại Tăng-già-trà-châu.
8. Phạt-xà-la-phất-đa-la, vị tôn giả này trú tại Bát-thích-noa-châu.
9. Thú-bác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Hương Túy
10. Bán-thác-ca, vị tôn giả này trú ở cõi trời Đao Lợi.
11. La-hỗ-la, vị tôn giả này trú tại Tất-lợi-dương-cù-châu.
12. Na-già-tê-na, vị tôn giả này trú tại núi Bán-độ-ba.
13. Nhân-yết-đà, vị tôn giả này trú tại núi Quảng Hiếp.
14. Phạt-na-bà-tư, vị tôn giả này trú tại núi Khả Trụ.
15. A-thị-đa, vị tôn giả này trú tại núi Thứu Phong.
16. Chú-trà-bán-thác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Trì Trục.
Sau khi Pháp trụ ký được Pháp sư Huyền Trang dịch ra Hán văn, 16 vị La-hán được đông đảo Phật giáo đồ Trung Quốc hân hoan đón nhận, ca tụng nồng nhiệt. Nhưng trong kinh điển chỉ có 16 vị La-hán, không có danh xưng “Thập bát La-hán”. Thế thì, xuất hiện thêm hai vị nữa là do đâu? Tên các Ngài là gì? Lai lịch thế nào? Hành tung ra sao? Vì sao các Ngài được Phật giáo đồ đời sau chọn đưa vào hàng 18 vị La-hán?
Thật ra, 18 vị La-hán là do từ 16 vị diễn biến phát triển, dần dần thêm vào thành 18 vị. Nguyên nhân chủ yếu là từ khi bắt đầu có hội họa, tiếp đến là điêu khắc, sau cùng là văn học.
Thời Ngũ Đại, cách đây hơn 1000 năm, tại Trung Quốc, có họa sĩ Trương Huyền vẽ tượng 18 vị La-hán. Đây là tượng 18 vị La-hán sớm nhất mà chúng ta được biết.
17. Nan-đê-mật-đa-la, vị tôn giả
18. Tân-đầu-lô.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


